Đội ngũ bác sĩ Khoa Phẫu thuật tim mạch

Mừng quốc tế thiếu nhi 1/6

Tìm hiểu về các loại bệnh lý van tim

03/02/2020 - 02/03/2020
Trung bình mỗi năm Khoa Phẫu thuật Tim mạch - Trung tâm tim mạch – Bệnh viện Đại học Y Dược tiếp nhận và điều trị cho hơn 250 trường hợp bệnh nhân mắc các bệnh lý về van tim, chiếm tỷ lệ lớn trong các bệnh lý về tim mạch. Nhận biết hiện có rất nhiều bệnh nhân đang mắc bệnh về van tim có nhu cầu tìm hiểu thông tin về bệnh, Trung tâm tim mạch xin cung cấp một số thông tin cần thiết để người đọc và bệnh nhân có thể hiểu rõ hơn về các bệnh van tim. Nội dung thông tin sẽ được lược giản từ chuyên môn để người đọc và bệnh nhân dễ hiểu hơn

Vai trò van tim trong tuần hoàn cơ thể

Tim đóng vai trò rất quan trọng, là trung tâm phân phối khoảng 300 lít máu mỗi giờ để duy trì sự sống của cơ thể, trong đó van tim có vai trò điều tiết quá trình này. Do đó, nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra đối với van tim điều ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

van tim.jpg (16 KB)

Bình thường Trái tim người có 4 van: Van 2 lá, van 3 lá, van động mạch chủ, van động mạch phổi. Các van tim hoạt động theo cơ chế “đóng, mở” có vai trò định hướng dòng chảy của máu “ra, vào” tim theo nguyên tắc một chiều:

  • Khi máu được bơm từ buồng tim trên xuống buồng tim dưới: Van 2 lá và van 3 lá mở, van động mạch chủ và van động mạch phổi đóng.
  • Khi máu được bơm từ hai buồng tim phía dưới lên phổi, ra hệ thống tuần hoàn: Van động mạch phổi, van động mạch chủ mở; van 2 lá và van 3 lá đóng lại để máu không trào ngược về tim

Vậy bệnh van tim là gì

Bệnh van tim xảy ra khi một hoặc nhiều van tim không thực hiện tốt chức năng đóng mở cho máu lưu thông theo một chiều. Có hai dạng thường gặp trong bệnh van tim, đó là bệnh hở van và hẹp van.

  • Hẹp van tim: là khi lá van không còn mềm mại, bị dày hoặc dính các mép van, làm hạn chế khả năng mở và cản trở sự lưu thông của máu qua đó. Tim phải bơm mạnh hơn để đưa máu qua chỗ hẹp.
  • Hở van tim: là khi van không thể đóng kín, làm cho một phần máu bị trào ngược trở lại buồng tim đã bơm máu trước đó. Hở van thường là do van bị co rút, thoái hóa hoặc giãn vòng van, hay dây chằng van quá dài hoặc đứt dây chằng treo van tim. Khi hở van, tim phải làm việc nhiều hơn để bù đắp khối lượng máu bị thiếu hụt do trào ngược và xử lý lượng máu tồn dư cho lần co bóp tiếp theo.
  • Một số trường hợp có thể gặp phối hợp cả hẹp và hở van tim và bệnh của nhiều van tim trong cùng một bệnh nhân.

Bệnh van tim gồm những loại nào ?

Bệnh van động mạch chủ

Đây là một van tim đặc biệt quan trọng đối với hệ tuần hoàn máu và cơ thể con người. Nếu hẹp van động mạch chủ xảy ra, dòng máu qua van động mạch chủ khó khăn, tim phải bóp mạnh hơn để đảm bảo đưa máu đi nuôi cơ thể. Tiến triển của bệnh hẹp van động mạch chủ thường không biểu hiện triệu chứng trong thời gian dài cho tới khi diện tích lỗ van động mạch chủ < 1,0 cm2. Khi xuất hiện triệu chứng thì tỷ lệ sống còn giảm rất nhanh chóng nếu không phẫu thuật (thời gian sống khoảng 2-3 năm do có nguy cơ đột tử)

Ngược lại, nếu van đóng không kín, tức khi hở van động mạch chủ, một phần lượng máu được bơm vào động mạch chủ (mạch máu lớn dẫn máu đi khắp cơ thể) sẽ trào ngược trở lại tim làm giảm dòng máu đi nuôi cơ thể. Bệnh hở van động mạch chủ thường không có biểu hiện trong nhiều năm, các triệu chứng khi xuất hiện thường là khó thở khi gắng sức sau đó dần dần thành khó thở khi nằm, cơn khó thở thường phát về đêm, cuối cùng là các dấu hiệu suy tim toàn bộ.

Bệnh van hai lá

Van hai lá có chức năng kiểm soát dòng máu mang oxy chảy một chiều từ tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái. Nếu lỗ van bị hẹp, lượng máu từ tâm nhĩ trái chảy xuống tâm thất trái sẽ bị hạn chế. Bệnh hẹp van hai lá về lâu dài khi nặng lên sẽ gây biến chứng như suy tim, rung nhĩ. Bệnh thường có các biểu hiện khó thở khi gắng sức, tăng lên khi nằm, ho ra máu, …

Mặt khác, khi van hai lá bị hở thì một lượng máu xuống tâm thất trái sẽ bị trào ngược trở lại tâm nhĩ trái. Bệnh hở van hai lá nhẹ hoặc vừa, bệnh nhân thường không có triệu chứng cho đến khi bệnh dẫn đến suy tim, rối loạn nhịp hay tăng áp lực phổi, khi đó bệnh nhân mới có triệu chứng. Khi đó bệnh nhân sẽ có triệu chứng khó thở khi gắng sức, khó thở khi nằm và cơn khó thở kịch phát về đêm

Bệnh van ba lá

Máu từ tâm nhĩ phải đi qua van ba lá xuống tâm thất phải rồi sau đó được bơm vào động mạch phổi lên phổi trao đổi oxy. Nếu van ba lá bị hẹp sẽ gây cản trở dòng máu từ tâm nhĩ phải xuống tâm thất phải.

Nếu van ba lá đóng không kín (tức hở), một phần máu từ tâm thất phải sẽ trào ngược lại tâm nhĩ phải. Trong cả hai trường hợp, tim đều phải làm việc nhiều hơn để đảm bảo cung cấp đủ lượng máu.

Hẹp van ba lá sẽ gây giãn tâm nhĩ phải trong khi tâm thất phải vẫn bình thường hoặc nhỏ hơn do không nhận đủ máu. Hở van ba lá sẽ gây giãn cả tâm thất phải và tâm nhĩ phải.

Bệnh van động mạch phổi

Van động mạch phổi cho phép máu đi từ tâm thất phải lên động mạch phổi để trao đổi oxy. Khi hở van động mạch phổi làm cho một lượng máu đáng lẽ đi vào động mạch phổi lại trào ngược lại tâm thất phải, ngược lại khi van động mạch phổi bị hẹp, gây cản trở tâm thất phải tống máu lên động mạch phổi.

Trong cả hai trường hợp, tâm thất phải đều phải làm việc nhiều hơn nhằm đảm bảo bơm đủ lượng máu. Thất phải sẽ bù đắp tình trạng này bằng cách giãn và phì đại thành cơ.

Vậy nguyên nhân nào gây bệnh van tim

Bệnh van tim có thể xảy ra do những nguyên nhân sau đây:

  • Do bẩm sinh: nghĩa là van bị lỗi ngay khi còn ở bào thai. Khuyết tật van tim bẩm sinh thường được chẩn đoán trong thời thơ ấu.
  • Do bệnh cơ tim (cardiomyopathy): Bệnh lý này có thể mắc từ trước khi sinh hoặc là biến chứng của bệnh khác trong quá trình phát triển, như sốt thấp khớp (bệnh do nhiễm khuẩn Streptococcus nhóm A), viêm nội tâm mạc nhiễm trùng hay do nhiễm bệnh giang mai (hiếm gặp). Bệnh cơ tim làm thay đổi cấu trúc tim làm giãn các buồng tim và gây hở van.
  • Nhồi máu cơ tim: Nhồi máu cơ tim làm tổn thương dây chằng van và gây hở van, thường gặp ở van hai lá và van động mạch chủ.
  • Do tuổi cao: Khi có tuổi, van tim trở nên kém linh hoạt, dễ bị rách (tự rách hoặc do chấn động mạnh ở ngực), dễ bị mảng bám canxi tại van (vôi hóa van tim) làm van bị dày lên và xơ cứng, hạn chế lưu lượng máu đi qua.
  • Do bệnh thấp tim: Tổn thương van tim do liên cầu khuẩn còn được gọi là bệnh thấp tim, thường gặp ở trẻ nhỏ từ 5-15 tuổi và cũng là nguyên nhân thường gặp nhất gây bệnh van tim ở nước ta. Thấp tim làm cho van bị dày dính, co kéo hoặc vôi hóa hay khít hẹp lâu ngày dẫn đến đóng không kín gây tình trạng hẹp - hở van, thường gặp nhất là van hai lá và van động mạch chủ. Tuy nhiên, các triệu chứng của tổn thương van tim thường chỉ xuất hiện khi trẻ đã ở tuổi trưởng thành (khoảng 20 năm sau khi bị thấp tim). Sử dụng kháng sinh đúng và đủ liều để điều trị viêm họng ở trẻ, có thể ngăn ngừa bệnh này.
  • Do sa van hai lá: Sa van hai lá xảy ra khi van nằm giữa buồng tim trên và buồng tim dưới bên trái đóng không đúng cách, nó lồi lên vào trong buồng tim phía trên (nhĩ trái). Nguyên nhân do tổn thương dây chằng van. Một số bệnh khác: Bệnh động mạch vành, tăng huyết áp, phình động mạch chủ, hoặc một số thuốc, phương pháp điều trị (bức xạ) cũng có thể gây hẹp, hở van tim.

Bệnh van tim có nguy hiểm không? Cách nhận biết triệu chứng

Tùy tình trạng bệnh mà có biểu hiện triệu chứng lâm sàng khác nhau, tùy loại biểu hiện bệnh như hẹp van, hở van hoặc kết hợp vừa hẹp vừa hở…

Theo siêu âm đối với hẹp người ta chia ra làm 4 mức độ dựa vào diện tích mở van đo được (BT # 4cm2) gồm: Nhẹ, trung bình, nặng, rất nặng. Đối với hở van siêu âm cũng chia làm 4 mức độ: Hở 1/4(nhẹ), 2/4(Trung bình), 3/4(Nặng), 4/4(Rất nặng).

Bệnh van tim trở nên nguy hiểm, khi tình trạng hẹp, hở van tim tiến triển nặng hơn và gây rối loạn chức năng bơm máu của tim. Hậu quả của bệnh van tim là rối loạn nhịp tim, suy tim, đột quỵ não, nếu không được điều trị tốt. Bệnh van tim nặng, bạn có thể gặp một hoặc nhiều các triệu chứng sau đây:

  • Khó thở: Bạn có thể cảm nhận được điều này khi hoạt động gắng sức hoặc khi nằm đầu thấp.
  • Mệt mỏi, choáng ngất: Bạn có thể bị mệt mỏi ngay cả khi làm các công việc hàng ngày. Chóng mặt, choáng ngất có thể xảy ra khi tiến triển của bệnh nặng lên.
  • Đánh trống ngực: Hồi hộp, kèm theo cảm giác lo lắng có thể xảy ra. Khi đó tim bất chợt đập nhanh hơn bình thường, cũng có khi nó bỏ qua 1 vài nhịp.
  • Đau thắt ngực (đau tim) – Thường gặp khi bị hẹp van động mạch chủ hoặc bệnh mạch vành, bởi vì tim của bạn phải làm việc nhiều hơn để bơm máu từ trái tim đi nuôi cơ thể.
  • Phù mắt cá chân hoặc bàn chân.

Các phương pháp điều trị bệnh van tim

Hầu hết các vấn đề về van tim có thể được điều trị bằng thuốc, can thiệp hay phẫu thuật sửa chữa, thay thế. Tùy vào nguyên nhân gây hở van, các triệu chứng của bệnh (mệt mỏi, khó thở, đau tức ngực), mức độ ảnh hưởng của van đến chức năng co bóp của tim, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với từng người bệnh cụ thể.

Điều trị bằng thuốc: Thuốc điều trị không làm cho van tim hết hẹp, hở nhưng có thể kiểm soát hoặc làm giảm các triệu chứng, giảm gánh nặng cho tim và làm chậm tiến triển của bệnh. Một số thuốc thường được sử dụng là thuốc lợi tiểu, thuốc giãn mạch, thuốc chống đông...

Can thiệp hoặc phẫu thuật: Lựa chọn phương pháp phẫu thuật tim mở, phẫu thuật tim nội soi hay can thiệp tim qua da sẽ được bác sĩ quyết định dựa trên mức độ tổn thương van. Phẫu thuật thường được áp dụng với các trường hợp van tim cần thay thế hoặc sửa chữa. Can thiệp qua da được áp dụng với các trường hợp hẹp van tim hoặc khuyết tật van tim bẩm sinh. Thay van tim qua da (không mổ) là một kỹ thuật hiện đại nhưng chi phí còn cao.

03/02/2020 8:29:14 SA +07:00